vvvvvvvvvv

  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

QUYẾT TÂM THỰC HIỆN THẮNG LỢI NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHỤ NỮ TOÀN QUỐC LẦN THỨ XII

img 29
email
CONG THONG TIN
bai viet cho ban bien tap copy

Thống kê truy cập

4080587
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
458
1517
14088
4046409
36751
74159
4080587

Your IP: 18.207.108.191
Server Time: 2020-08-15 03:42:57

Quyền của phụ nữ Việt Nam qua các bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Quyền của phụ nữ là một vấn đề mang tính thời đại. Nó không phải chỉ là vấn đề của riêng phụ nữ mà là mối quan tâm chung của toàn xã hội và toàn nhân loại. Bởi lẽ, đời sống của phụ nữ là một bộ phận của đời sống xã hội, của đời sống gia đình và là “người xây tổ ấm” cho mỗi tế bào gia đình trong xã hội loài người. Người phụ nữ không hề tách biệt với phần còn lại của thế giới mà trái lại gắn liền và chi phối mạnh mẽ đời sống gia đình và xã hội. Trải qua hàng trăm năm tranh đấu bền bỉ, ngày nay quyền của phụ nữ đã trở thành vấn đề được quốc tế thừa nhận và trân trọng.

Ngày 02/9/1945, Bác Hồ đọc Bản Tuyên ngôn khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, từ đó đến nay, Nhà nước ta đã ban hành 05 bản Hiến pháp (năm 1945, 1959, 1980, 1992 - sửa đổi bổ sung năm 2001 và gần đây nhất là bản Hiến pháp năm 2013). Các bản Hiến pháp trong đó điều quy định chế độ chính trị, bộ máy nhà nước, các quyền cơ bản của công dân…, ngoài ra còn quán triệt và cụ thể hóa quan điểm “Nam, nữ bình quyền” bằng những quy định cụ thể.

Tại Điều 1, Điều 9, Điều18, Hiến pháp 1946 quy định “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể Nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”; “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”; “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền”. Như vậy, Hiến pháp năm 1946 lần đầu tiên quy định về sự ngang quyền (quyền bình đẳng) giữa đàn bà và đàn ông (phụ nữ và nam giới), đây là quy định có ý nghĩa rất lớn đối với phụ nữ trong bối cảnh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời. Điều này đã góp phần quan trọng, làm nền tảng cho sự nghiệp giải phóng phụ nữ, giải phóng con người trong lịch sử lập hiến Việt Nam. Quy định đó thực sự đã phá tan xiềng xích tư tưởng “trọng nam kinh nữ” của chế độ phong kiến đã tồn tại hàng ngàn năm trước đó.

Tại Điều 24, Hiến pháp năm 1959 quy định: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình’’. Như vậy, so với Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 đã cụ thể hóa hơn các lĩnh vực mà người phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới. Quyền bình đẳng nam nữ được thể hiện trên 5 lĩnh vực từ xã hội đến gia đình. Đó là sự ghi nhận và trân trọng, được đảm bảo của toàn xã hội đối với phụ nữ.

Từ Điều 52 đến Điều 65 Hiến pháp năm 1980 quy định quyền của phụ nữ vừa được lồng vào các quyền cơ bản của công dân, vừa được quy định riêng nhằm tạo ra những điểm nhấn quan trọng, khẳng định quyền của phụ nữ. “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”; “Công dân không phân biệt dân tộc, nam - nữ, thành phần xã hội... đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp” ; “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội. Chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ”; “Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng... Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt đối xử giữa các con”. Có thể khẳng định, Hiến pháp năm 1980 là bản Hiến pháp tiến bộ nhất so với các bản Hiến pháp trước, ở đó quyền của công dân nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng đã được khẳng định ở tầm cao hơn, cụ thể hơn.

Từ Điều 53 đến Điều 74 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001  quy định rõ các quyền bình đẳng nam, nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, trong đó tại Điều 63 quy định “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ. Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhi, nhà trẻ và cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bổn phận của người mẹ. Như vậy, tại Hiến pháp 1992 các quy định trên cơ bản được giữ nguyên là một sự khẳng định lại những giá trị về quyền của phụ nữ đã được xác định và phát huy hơn 2 thập kỷ. Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, năm 2006 Luật Bình đẳng giới được ban hành, các quyền của phụ nữ Việt Nam được quy định đầy đủ, cụ thể và toàn diện hơn. Các đạo luật và các văn bản pháp luật khác được ban hành ngày càng cụ thể hoá hơn các quy định của Hiến pháp về quyền của phụ nữ, trong đó nổi bật nhất là Luật Bảo hiểm xã hội (năm 2006, 2014), Luật Cư trú (2006), Luật Phòng chống bạo lực gia đình (năm 2007), Luật Quốc tịch (năm 2008), Bộ Luật Lao động (năm 2005, 2012), Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (năm 2007), Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2000, 2014)...

Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung đến nay, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định sâu sắc hơn quyền của phụ nữ trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp năm 1992. Từ Điều 14 đến Điều 49, Chương II, Hiến pháp năm 2013 đã quy định các quyền con người nói chung và quyền công dân nói riêng, trong đó có quyền của phụ nữ được quy định tại Điều 26 “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới”. Tại Điều này trách nhiệm tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội, không chỉ của nhà nước, xã hội mà còn có trách nhiệm của cả gia đình. Tại Khoản 2, Điều 36 “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”;  tại Khoản 2, Điều 58 “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình”...

Song, qua các bản Hiến pháp nước ta đã thể hiện rõ quan điểm “bình đẳng và ưu tiên”. Có những quyền được pháp luật xây dựng bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ trước pháp luật nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử trong công việc, trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và trong đời sống gia đình và bên cạnh đó có những quyền ưu tiên trong việc tuyển dụng, sắp xếp công việc..., tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ thể hiện khả năng của mình với việc đóng góp ngày càng nhiều cho gia đình, xã hội, đồng thời tránh rủi ro trong nghề nghiệp, trong cuộc sống gia đình và xã hội.

Như vậy, chúng ta có thể khẳng định quyền của phụ nữ Việt Nam luôn luôn được quy định qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung các bản Hiến pháp để ngày càng phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước ta đã tham gia và cũng phù hợp xu hướng Hiến pháp của các nước trong khu vực và quốc tế. Điều này đã thể hiện mối quan tâm sâu sắc của cả hệ thống chính trị, của bộ máy nhà nước Việt Nam đối với sự phát triển của phụ nữ Việt Nam trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

93255213 2858993500884172 4979702722136637440 o

pano

 TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỘI LIÊN HIỆP PHỤ TỈNH HÒA BÌNH

Chịu trách nhiệm chính: Hoàng Thị Duyên - Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Hòa Bình.

ĐT: 02183.853658 - Fax: 02183.894.895

Địa chỉ: xã Dân Chủ, thành Phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình.